Để hiện thực hóa mục tiêu này, hàng loạt cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội đã được ban hành nhằm khơi thông nguồn lực, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược.
Theo đó, hàng loạt cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội dành cho phát triển công nghệ chiến lược đã được luật hóa, từ ưu đãi thuế đến cơ chế khoán chi, trao quyền tự chủ và thu hút nhân tài. Đây được kỳ vọng sẽ tạo cú hích để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, hiện thực hóa mục tiêu phát triển nền công nghệ tự lực, tự cường.
Nghị định số 260/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao đã cụ thể hóa các cơ chế hỗ trợ phát triển công nghệ chiến lược. Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-CP quy định danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, làm căn cứ để định hướng đầu tư, phát triển.

Cụ thể, Nghị định số 260/2026/NĐ-CP quy định mức uu đãi, hỗ trợ khi thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược như: Được Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng, tài trợ từ Quỹ NAFOSTED, Quỹ bộ ngành địa phương; được ưu tiên thực hiện thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm, mô hình kinh doanh mới; ưu tiên sử dụng dịch vụ tại các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia do Nhà nước đầu tư.
Đối với ưu đãi, hỗ trợ về thuế, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược được miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng, tài liệu, sách báo khoa học chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ chiến lược cũng được hỗ trợ lãi suất vay thông qua nhiệm vụ hỗ trợ lãi suất vay từ Quỹ NATIF, Quỹ bộ ngành địa phương theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Mức hỗ trợ lãi suất vay được xác định bằng 100% lãi suất cho vay theo hợp đồng cho vay đã ký kết giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp nhưng không quá 10%/năm. Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa không quá 05 năm.
Những chính sách này được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Nghị định số 260/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các loại hình nhiệm vụ thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Chương trình được thiết kế với ba nhóm nhiệm vụ chính. Nhóm thứ nhất là các nhiệm vụ do Chính phủ giao, mang tính chất đặt hàng từ trên xuống đối với các bộ, ngành. Các bộ, ngành sẽ xây dựng hồ sơ đề xuất, gửi Bộ KH&CN thẩm định trước khi hoàn thiện và tổ chức triển khai.
Nhóm thứ hai xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của các bộ, ngành và địa phương. Trên cơ sở đề xuất gửi về Bộ KH&CN, Bộ sẽ tổ chức đánh giá, lựa chọn và hỗ trợ phát triển công nghệ, sản phẩm chiến lược phù hợp.
Nhóm thứ ba là các nhiệm vụ tài trợ dự án nhằm tìm kiếm các giải pháp công nghệ đột phá. Bộ KH&CN sẽ thông qua các quỹ để tổ chức kêu gọi, tiếp nhận đề xuất và lựa chọn các dự án có tiềm năng phát triển công nghệ chiến lược.
Cả ba nhóm nhiệm vụ đều nằm trong khuôn khổ Chương trình quốc gia đặc biệt, được thiết kế với những cơ chế, chính sách mang tính đột phá, chưa từng có.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là cơ chế khoán chi theo các mốc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, kinh phí được giải ngân và quyết toán tương ứng với tiến độ, kết quả đạt được của từng giai đoạn nghiên cứu, phát triển công nghệ.
Bên cạnh đó, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân chủ trì nhiệm vụ được trao quyền tự chủ cao hơn trong quản lý tài chính, tổ chức thực hiện và lựa chọn nhà thầu. Cơ chế này nhằm khắc phục tình trạng chậm trễ do các thủ tục hành chính kéo dài, vốn là một trong những rào cản đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Đặc biệt, chương trình cho phép triển khai cơ chế nghiên cứu độc lập đa phương - một cơ chế mới chưa từng được áp dụng trước đây. Đối với các bài toán công nghệ lớn, Nhà nước có thể lựa chọn đồng thời hai tổ chức cùng nghiên cứu theo những phương án công nghệ khác nhau.
Thông qua việc đánh giá kết quả theo từng mốc thực hiện, cơ quan quản lý sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất để tiếp tục đầu tư và phát triển. Cách tiếp cận này không chỉ thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu mà còn góp phần nâng cao khả năng tìm kiếm các giải pháp công nghệ mang tính đột phá.
Ngoài ra, cơ chế đặc thù cho nhân tài cũng được thiết kế theo hướng linh hoạt, tạo điều kiện để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước thông qua chính sách tiền lương, tiền thưởng tương xứng với năng lực và đóng góp.