Sản xuất thông minh đang trở thành một hướng đi quan trọng của ngành Công Thương trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng.
Với ngành Công Thương, yêu cầu này càng rõ nét khi đây là khu vực đóng góp hơn 80% kim ngạch xuất nhập khẩu và giữ vai trò quan trọng trong sản xuất, thương mại của nền kinh tế.

Trong khi chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục thay đổi, các yêu cầu về sản xuất xanh và tiêu chuẩn của thị trường ngày càng cao, doanh nghiệp sẽ khó duy trì sức cạnh tranh nếu chỉ dựa vào việc mở rộng quy mô. Năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và đáp ứng nhanh với những thay đổi của thị trường đang trở thành những yếu tố ngày càng quan trọng.
Trong bối cảnh đó, sản xuất thông minh không đơn thuần là đưa thêm máy móc hay phần mềm vào nhà máy. Quan trọng hơn là thay đổi cách thức sản xuất, quản lý và ra quyết định trên cơ sở công nghệ và dữ liệu.
Quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW, Đảng ủy Bộ Công Thương đã lãnh đạo triển khai các chương trình hành động, gắn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với các nhiệm vụ phát triển của ngành.
Một trong những bước đi đáng chú ý là Quyết định số 2708/QĐ-BCT năm 2025 về Chương trình thúc đẩy sản xuất thông minh và chuyển đổi số trong các lĩnh vực của ngành Công Thương.
Chương trình không chỉ hướng tới công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn được triển khai trong lĩnh vực năng lượng và thương mại. Điều này cho thấy chuyển đổi số đang được đặt trong mối liên hệ với sản xuất xanh và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực.
Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình chuyển đổi. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, xây dựng tiêu chuẩn, phát triển hệ sinh thái và có chính sách hỗ trợ phù hợp với mức độ trưởng thành số của từng doanh nghiệp.
Điều quan trọng là chính sách hỗ trợ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, tránh triển khai dàn trải. Sau cùng, chuyển đổi số phải tạo ra hiệu quả cụ thể cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo giới chuyên gia, công nghệ và dữ liệu là hai yếu tố quan trọng, nhưng để sản xuất thông minh phát triển, doanh nghiệp cũng cần một môi trường pháp lý rõ ràng và ổn định.
Một khung pháp lý phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt rủi ro khi đầu tư công nghệ mới, đồng thời có cơ sở để xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình ứng dụng AI và dữ liệu.
Thể chế vì vậy không chỉ nhằm quản lý, kiểm soát mà còn phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp có thể dự liệu được yêu cầu pháp lý và chi phí tuân thủ, việc đầu tư dài hạn cho công nghệ sẽ có thêm cơ sở.
Đối với ngành Công Thương, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng không nên chỉ nhìn vào số lượng doanh nghiệp sử dụng AI hay mức độ số hóa của các nhà máy. Điều quan trọng hơn là công nghệ có giúp doanh nghiệp tăng năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không.
Sản xuất thông minh, nếu được triển khai đúng hướng, sẽ không phải là câu chuyện chạy theo công nghệ. Mục tiêu cuối cùng vẫn là làm cho sản xuất hiệu quả hơn, doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn.
Đó cũng là cách ngành Công Thương đưa những yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW vào thực tiễn: lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh làm thước đo và từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành một phần thực chất của quá trình phát triển ngành.