Sau hơn một năm rưỡi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, những chuyển động mới đang dần hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Với ngành Công Thương – một trong những lĩnh vực giữ vai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dân – quá trình triển khai Nghị quyết không chỉ dừng lại ở cải cách thủ tục hành chính, xây dựng dữ liệu hay chuyển đổi số quản trị, mà đang từng bước hướng tới mục tiêu lớn hơn: hình thành năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược, nâng cao sức cạnh tranh và bảo đảm nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng phát biểu tại cuộc họp chiều 23/6/2026Từ quyết tâm chính trị đến kết quả thực chất
Một trong những điểm đáng chú ý là công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW tại Bộ Công Thương được thực hiện bài bản và có tính hệ thống.
Từ năm 2025 đến ngày 16/6/2026, Bộ đã ban hành 31 văn bản phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Trong tổng số 287 nhiệm vụ được giao, đã hoàn thành 158 nhiệm vụ; 30 nhiệm vụ đang được triển khai đúng tiến độ; 99 nhiệm vụ mang tính thường xuyên. Đáng chú ý, không có nhiệm vụ nào quá hạn chưa hoàn thành.
Kết quả này cho thấy Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ được quán triệt ở cấp chủ trương mà đã được cụ thể hóa thành các chương trình hành động, nhiệm vụ và kết quả đo đếm được.
Song song với đó, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh. Theo Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP, Bộ Công Thương thực hiện phân cấp 19 thủ tục hành chính, bãi bỏ 34 thủ tục, đơn giản hóa 106 thủ tục và cắt giảm 153 điều kiện kinh doanh.
Đến giữa tháng 6/2026, toàn bộ 509/509 thủ tục hành chính của Bộ đã được cấu hình trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ. Toàn bộ 162 thủ tục thuộc diện rà soát theo Nghị quyết số 66/NQ-CP đã được tái cấu trúc, cắt giảm thành phần hồ sơ. Hệ thống đồng thời đã kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, tạo nền tảng cho việc tái sử dụng dữ liệu và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Điểm đáng lưu ý là nếu trước đây dữ liệu chủ yếu được xem là công cụ quản lý thì hiện nay dữ liệu đang dần trở thành một loại hạ tầng chiến lược phục vụ điều hành, dự báo và ra quyết định.
Thực hiện định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Công Thương đã ban hành Khung kiến trúc dữ liệu, Chiến lược phát triển dữ liệu, quy hoạch hạ tầng trung tâm dữ liệu và Chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2025-2030.
Đến nay, ba cơ sở dữ liệu chuyên ngành quan trọng đã được tích hợp vào Trung tâm Dữ liệu quốc gia, gồm cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại với 2.272 lô dữ liệu; cơ sở dữ liệu hàng hóa, hóa chất, tiền chất với 2.013 bản ghi; cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính INS với 10.561 bản ghi.
Cùng với đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia Verigoods đã được đưa vào vận hành, mở ra khả năng tăng cường minh bạch thông tin hàng hóa, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng hiện đại và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Những kết quả này cho thấy quá trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số trong ngành Công Thương đang được thúc đẩy trên nền tảng dữ liệu số và kết nối liên thông.
Định hình năng lực công nghệ chiến lược từ ba bài toán lớn của ngành
Một trong những nội dung trọng tâm được Bộ Công Thương báo cáo tại phiên họp là việc triển khai các công nghệ chiến lược gắn với ba bài toán lớn được Chính phủ giao theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg và Quyết định số 808/QĐ-TTg.
Đó là bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và phát triển chuỗi giá trị xanh, thông minh; hiện đại hóa thương mại dựa trên dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.
Trên cơ sở đó, Bộ đã đề xuất nhiều nhiệm vụ đặt hàng triển khai trong năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ có ý nghĩa chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), Digital Twin, nhà máy thông minh; pin lưu trữ năng lượng (BESS), truyền tải điện một chiều công suất lớn (HVDC), thiết bị điện cao áp; hydrogen, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS); robot, ROV, UAV; hóa chất siêu tinh khiết, đất hiếm, vật liệu tiên tiến; thương mại số và logistics thông minh.
Điểm đáng chú ý là việc lựa chọn nhiệm vụ được thực hiện theo nguyên tắc lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy thị trường và sản phẩm đầu ra làm thước đo, gắn với khả năng làm chủ công nghệ và các chỉ số đánh giá định lượng cụ thể.
Những chuyển động tích cực không chỉ diễn ra ở cấp quản lý nhà nước mà đã xuất hiện rõ nét trong cộng đồng doanh nghiệp ngành Công Thương. Theo đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã đạt mức trưởng thành chuyển đổi số 81,89%, xây dựng 12 kho dữ liệu, phát triển 16 sản phẩm “Make by EVN” và triển khai 31 nhiệm vụ AI, công nghệ số ở mức độ M3.
Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã xây dựng danh mục 34 sản phẩm chiến lược; phát triển thành công Mini ROV ở mức M3; một giải pháp tại Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) mang lại giá trị khoảng 130 tỷ đồng mỗi năm. Giai đoạn 2020-2024, toàn Tập đoàn ghi nhận 7.082 đề tài, sáng kiến với tổng giá trị làm lợi khoảng 11.418 tỷ đồng.
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã vận hành hệ thống tự động hóa mỏ hầm lò ở mức M4 với 60 bộ băng tải cùng nhiều hệ thống điều khiển tập trung.
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) phát triển sản phẩm pin Sodium-ion/BESS ở mức M3, đồng thời đã có đơn đặt hàng 20.000 sản phẩm. Nền tảng VinachemMart đạt doanh thu 51,5 tỷ đồng với hơn 52.000 tài khoản sử dụng.
Còn Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) triển khai hệ thống điều hành sản xuất MES tại 6 đơn vị, giúp rút ngắn thời gian lập báo cáo tài chính xuống còn 5-7 ngày.
Những kết quả này cho thấy AI, dữ liệu lớn, tự động hóa, quản trị số và thương mại số đã bắt đầu tạo ra giá trị thực tiễn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, Bộ Công Thương cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng nhiều công nghệ quan trọng như Digital Twin quy mô hệ thống, BESS cho lưới điện, HVDC, hydrogen, SAF, CCUS, robot công nghiệp, hóa chất đạt chuẩn điện tử, vật liệu tiên tiến hay logistics thông minh vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu, chủ yếu từ M1 đến M2. Đây là những lĩnh vực cần tiếp tục đầu tư, xác định rõ khách hàng đầu tiên, tiêu chuẩn kỹ thuật, mục tiêu chi phí, tỷ lệ nội địa hóa và lộ trình phát triển.
Hình thành hệ sinh thái công nghệ năng lượng mới cho tăng trưởng xanh
Một nội dung được Bộ Công Thương đặc biệt nhấn mạnh là vai trò định hướng và dẫn dắt trong phát triển hệ sinh thái công nghệ năng lượng mới, năng lượng tái tạo và lưới điện thông minh tại các địa phương.
Trong những năm qua, ngành điện Việt Nam đã hình thành hệ thống có quy mô thuộc nhóm lớn của Đông Nam Á; năng lượng tái tạo phát triển nhanh; nhiều ứng dụng số như trung tâm điều khiển không người trực, đo đếm từ xa, tự động hóa lưới điện và số hóa quản trị đã đi vào thực tiễn.
Tuy nhiên, nhu cầu điện phục vụ tăng trưởng cao tiếp tục gia tăng trong khi tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng lớn, kéo theo yêu cầu mới về dự báo, điều độ, lưu trữ năng lượng và truyền tải liên vùng.
Bên cạnh đó, khả năng làm chủ các công nghệ lõi như điện gió ngoài khơi, pin lưu trữ, hydrogen xanh, amoniac xanh, thiết bị điều khiển tiên tiến và các nền tảng số vẫn còn hạn chế.
Trước thực tế đó, Bộ Công Thương xác định phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghệ năng lượng mới gắn với công nghiệp chế tạo, nghiên cứu phát triển, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế.
Các lĩnh vực trọng tâm gồm điện gió ngoài khơi, điện mặt trời thế hệ mới, pin lưu trữ năng lượng, hydrogen và amoniac xanh; lưới điện thông minh; ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các giải pháp bảo đảm an ninh mạng trong vận hành hệ thống điện.
Từ thực tiễn triển khai, Bộ Công Thương cho rằng một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay là hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, Bộ, ngành Trung ương cần tập trung kiến tạo thể chế, công nghệ nền tảng, tiêu chuẩn, hạ tầng dùng chung và thị trường; địa phương tham gia đồng xác định và sở hữu bài toán phát triển; doanh nghiệp là chủ thể sản phẩm và thương mại hóa; viện, trường đảm nhận vai trò nghiên cứu, phát triển và kiểm chứng công nghệ.
Đồng thời, Bộ kiến nghị tiếp tục hoàn thiện thể chế trên cơ sở Luật Điện lực năm 2024, các văn bản hướng dẫn thi hành và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm nhằm thúc đẩy nội địa hóa và hình thành chuỗi cung ứng thiết bị năng lượng trong nước.
Bên cạnh đó, nhiều nút thắt về cơ chế thử nghiệm công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định, thương mại hóa sản phẩm và nguồn lực đầu tư cần được tháo gỡ sớm.
Đặc biệt, trong bối cảnh nhu cầu nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn rất lớn, Bộ Công Thương đề xuất ưu tiên bổ sung nguồn lực tài chính, đồng thời hoàn thiện cơ chế mua sắm, thử nghiệm và ứng dụng các sản phẩm công nghệ mới.
Sau hơn 18 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, những kết quả đạt được cho thấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước trở thành động lực phát triển mới của ngành Công Thương. Từ cải cách thể chế, xây dựng dữ liệu, chuyển đổi số quản trị đến phát triển công nghệ chiến lược và hình thành các hệ sinh thái công nghiệp mới, quá trình này không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn đặt nền móng cho mục tiêu tự chủ công nghệ, bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.