Quyết định số 1823/QĐ-BCT về việc ban hành Kế hoạch bổ sung nhiệm vụ của Bộ Công Thương thực hiện Kết luận của Tổng Bí thư; Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cũng xác định:
Mục tiêu của Kế hoạch là quán triệt và triển khai nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương; Thủ tướng Chính phủ cùng các nhiệm vụ được giao tại Thông báo số 24, Thông báo số 25 và Kế hoạch số 05 của Ban Chỉ đạo Trung ương. Trọng tâm là khắc phục ngay các tồn tại, hạn chế; hoàn thành các nhiệm vụ xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số trong thời gian 100 ngày và triển khai các nhiệm vụ đột phá về chuyển đổi số, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng; đồng thời kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền đối với những nội dung vượt thẩm quyền.
Kế hoạch xác định việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của toàn ngành. Vì vậy, việc triển khai phải được thực hiện đồng bộ, quyết liệt trong toàn hệ thống từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tích cực tham gia quá trình chuyển đổi số.
Các cơ quan chủ trì và thủ trưởng đơn vị được yêu cầu rà soát toàn bộ nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; chịu trách nhiệm đến cùng về tiến độ, chất lượng, không để tình trạng chậm trễ, kéo dài. Người đứng đầu các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện trong phạm vi phụ trách; chủ động giải quyết các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Đáng chú ý, Kế hoạch yêu cầu cụ thể hóa đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị; phân công đầu mối chủ trì, phối hợp theo nguyên tắc "6 rõ" gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền, bảo đảm các nhiệm vụ được triển khai quyết liệt, hiệu quả.
Về tổ chức thực hiện, các Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực chịu trách nhiệm thường xuyên chỉ đạo các đơn vị triển khai Quyết định và các kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường học và các đơn vị liên quan để hoàn thành các nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về kết quả thực hiện.
Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công được giao thường xuyên đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện; phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Văn phòng Bộ bảo đảm 100% nhiệm vụ được theo dõi, giám sát và đánh giá trên hệ thống theodoinq.dcs.vn; đồng thời phối hợp với Văn phòng Đảng ủy Bộ tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, kiến nghị, sáng kiến trên hệ thống pakn.dcs.vn và các kênh liên quan, nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị. Bên cạnh đó, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc triển khai Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025, Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW ngày 5/1/2026 cùng các nhiệm vụ về chuyển đổi số của Bộ, bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng.
Kế hoạch cũng yêu cầu các cơ quan, đơn vị, viện nghiên cứu, trường học và đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ quán triệt đầy đủ các kết luận của Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động 100 ngày của Ban Chỉ đạo Trung ương. Thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ và chất lượng các nhiệm vụ được giao; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; chủ động rà soát, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách, đồng thời nghiên cứu, đề xuất cơ chế thí điểm đặc thù khi cần thiết, bảo đảm huy động đầy đủ nguồn lực và tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành các mục tiêu của Kế hoạch.
Sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong số 287 nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương đã hoàn thành 178 nhiệm vụ, 10 nhiệm vụ đang thực hiện đúng hạn và 99 nhiệm vụ thường xuyên; không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành. Các nhiệm vụ đều được rà soát, xây dựng Kế hoạch, phân công cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm đầu ra và thời hạn hoàn thành. Nhiệm vụ được phân bổ cho nhiều đơn vị thuộc Bộ, song tập trung chủ yếu ở hai đơn vị đầu mối về chuyển đổi số và khoa học công nghệ.
Đáng chú ý, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đã ghi nhận những chuyển biến rõ nét từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, phục vụ phát triển; từ giai đoạn khởi động trong năm 2025 sang giai đoạn đo lường hiệu quả bằng sản phẩm, dữ liệu và kết quả đầu ra.
Theo đó, về cải cách thể chế, thủ tục hành chính, Bộ Công Thương tiếp tục thuộc nhóm 03 bộ, ngành dẫn đầu về phục vụ người dân, doanh nghiệp với việc đã ban hành hoặc trình ban hành 17 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến KHCN, ĐMST và CĐS; phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 55,34% TTHC (233/421 thủ tục), tiết kiệm khoảng 491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ; hoàn thành phân cấp 43/45 TTHC, đạt 95,5%.
Về chuyển đổi số, dữ liệu và dịch vụ công, hệ thống thông tin giải quyết TTHC tập trung vận hành từ ngày 01/01/2026, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến xấp xỉ 99%; đã tích hợp 265 dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu hóa chất, tiền chất; đồng bộ 16/16 nhóm chỉ tiêu của CSDL Kinh tế công nghiệp và thương mại với Trung tâm dữ liệu quốc gia; rà soát 41 loại giấy tờ chuyên ngành để tích hợp VNeID.
Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, 3 bài toán lớn của Ngành đã xác định, gồm: Bảo đảm an ninh năng lượng; tự chủ công nghiệp, nâng cao nội địa hóa và chuỗi giá trị; hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, viện, trường trong ngành Công Thương đã chủ động triển khai, chuyển từ ứng dụng công nghệ thông tin đơn lẻ sang hình thành danh mục công nghệ, sản phẩm chiến lược gắn với vận hành, sản xuất và thị trường và lợi nhuận, hiệu quả cụ thể.
Về phát triển nguồn nhân lực, tỷ lệ cán bộ, công chức được bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản đạt 100%; phong trào “bình dân học vụ số” được triển khai gắn với AI, dữ liệu lớn và tự động hóa công vụ; bước đầu áp dụng cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài và chuyển dịch đào tạo của hệ thống viện, trường sang bán dẫn, AI, năng lượng xanh, logistics và các ngành công nghệ lõi.