Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ngành Công Thương

Thứ sáu, 03/07/2026 | 00:59

Tạo chuyển biến mang tính hệ thống về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

02/07/2026
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo được sự chuyển biến mang tính hệ thống trong toàn bộ nền quản trị quốc gia. Lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được xem là lĩnh vực chuyên ngành mà trở thành nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị.

Trình bày tóm tắt Báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Hội nghị chiều ngày 01/7/2026, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh khẳng định, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW được thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ.


Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước là lãnh đạo Ban Chỉ đạo đã trực tiếp chỉ đạo các định hướng chiến lược và nhiều nhiệm vụ lớn mang tính liên ngành. Thường trực Ban Chỉ đạo đã phát huy vai trò trung tâm điều phối, chủ trì tháo gỡ, xử lý nhiều điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu, hạ tầng, tài chính, nhân lực... Đảng ủy các cơ quan Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy đã thành lập các Ban Chỉ đạo, với trưởng ban là người đứng đầu cấp ủy, chỉ đạo toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ở địa phương, đơn vị mình.

Tính đến ngày 29/6, Ban Chỉ đạo đã giao 1.937 nhiệm vụ; các cơ quan đã hoàn thành 84,8% nhiệm vụ có thời hạn, xử lý 1.009/1.071 phản ánh, kiến nghị, sáng kiến, giải pháp (đạt 94,2%).

Về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, các cơ quan đã xây dựng, trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hơn 400 văn bản, bao gồm có 13 văn bản của Ban Bí thư, 30 luật, hơn 170 văn bản QPPL của Thủ tướng Chính phủ, hơn 80 thông tư có liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS).

Tư duy quản lý KHCN đã chuyển từ "chú trọng quản lý hoạt động khoa học, công nghệ" sang "kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo"; một số chính sách mang tính đột phá được ban hành như: Thử nghiệm có kiểm soát; khoán chi, chấp nhận rủi ro; sở hữu trí tuệ; thương mại hóa kết quả nghiên cứu; thu hút nhân tài.

Về chuyển đổi số quốc gia, ngay khi mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, công tác chuyển đổi số đã được Ban Chỉ đạo Trung ương và các cơ quan, địa phương chỉ đạo quyết liệt, kịp thời, bước đầu đã đạt một số kết quả tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

Theo Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh, quá trình triển khai thực tế cho thấy, một số mô hình tiêu biểu cần tiếp tục hoàn thiện, nhân rộng như: Đề án 06 của Chính phủ, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID - hơn 71 triệu tài khoản kích hoạt, dùng trong dịch vụ công, tài chính, ngân hàng, hàng không, y tế. Mạng bảo mật liên thông và nền tảng số dùng chung - cơ bản hoàn thành 98% với 7.137 điểm kết nối, Hệ thống Điều hành tác nghiệp của Đảng đã triển khai tới toàn bộ xã, phường, đặc khu. Phong trào "Bình dân học vụ số" - năm 2026 đạt hơn 880.000 lượt học, gần 27.000 cán bộ cấp xã hoàn thành. Mô hình Hà Nội về quản trị thực thi trên môi trường số đến cấp xã với nền tảng HanoiWork gắn với đo lường mục tiêu, kết quả và bảo đảm thiết bị, đường truyền, chữ ký số. Một số mô hình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo địa phương gắn với chuỗi giá trị như: Thái Nguyên (sản phẩm chè), Cà Mau (tôm tuần hoàn), Lâm Đồng (nông nghiệp công nghệ cao), Đà Nẵng (sâm Ngọc Linh), Gia Lai (Graphene), Lạng Sơn (Công viên logistics Viettel).

Bên cạnh khẳng định những kết quả đạt được, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh cũng nêu lên một số tồn tại, hạn chế, trong đó nổi lên là: Văn bản về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ban hành nhiều nhưng hướng dẫn thi hành trong một số lĩnh vực cụ thể còn chậm, thiếu đồng bộ; các cơ chế đặt hàng, khoán theo kết quả, đồng tài trợ, mua sắm công đổi mới sáng tạo, định giá tài sản trí tuệ chưa cụ thể hóa thành quy trình thuận lợi cho triển khai thực hiện.


Về thực thi, tỉ lệ hoàn thành nhiệm vụ cao (84,8%) nhưng chưa đi vào thực chất; nhiều nhiệm vụ mới dừng ở văn bản, kế hoạch, đề án. Một số nội dung mới hoàn thành về thủ tục hoặc sản phẩm trung gian: Tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến của địa phương cao nhưng nhiều quy trình chưa tái cấu trúc toàn trình, nhiều nền tảng số quốc gia, chuyên ngành chưa hoàn thành, cán bộ cấp xã phải dùng nhiều phần mềm, tài khoản; ứng dụng AI còn phân tán, chủ yếu mới dừng ở giai đoạn thử nghiệm; một số mô hình "ba nhà", sàn giao dịch công nghệ, đô thị thông minh, khu công nghệ cao còn nặng về tổ chức sự kiện, trình diễn hình thức; số hợp đồng và sản phẩm thương mại hóa còn ít.

Về chuyển đổi số, còn 10 nội dung tồn tại, hạn chế là: Thể chế; hạ tầng đường truyền, lõm sóng, thiếu điện và gần 30% thiết bị đầu cuối chưa đáp ứng; tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu và phát triển dữ liệu chưa đạt yêu cầu; nền tảng số quốc gia/chuyên ngành còn chậm, chưa ổn định; chất lượng dịch vụ công trực tuyến còn một số vấn đề gây khó khăn cho người dân; kinh tế dữ liệu chưa thực sự hình thành để trở thành động lực phát triển kinh tế số;…

Đánh giá tổng thể, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh, Nghị quyết 57 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Điều có ý nghĩa chiến lược nhất không chỉ là các kết quả cụ thể đạt được mà là việc Nghị quyết đã xác lập một mô hình phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, thay thế dần mô hình phát triển dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp. Đây là sự chuyển đổi tư duy phát triển có tính nền tảng, tạo tiền đề để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.

Đồng thời, qua triển khai thực hiện Nghị quyết đã tạo được sự chuyển biến mang tính hệ thống trong toàn bộ nền quản trị quốc gia. Lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được xem là lĩnh vực chuyên ngành mà trở thành nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị. Từ Trung ương đến địa phương, từ khu vực công đến doanh nghiệp, từ xây dựng thể chế đến tổ chức thực thi đều đang được điều chỉnh theo tư duy số, tư duy đổi mới và tư duy phát triển dựa trên dữ liệu. Đây là sự thay đổi có tính hệ thống, tạo ra năng lực thích ứng của quốc gia trước những biến động nhanh của thế giới.

Tin cùng chuyên mục

Tạo chuyển biến mang tính hệ thống về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo được sự chuyển biến mang tính hệ thống trong toàn bộ nền quản trị quốc gia. Lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được xem là lĩnh vực chuyên ngành mà trở thành nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị.

02/07/2026