Thứ ba, 19/05/2026 | 11:34
Bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, cơ quan thường trực của Bộ Công Thương về Nghị quyết 57 - cho biết, Bộ Công Thương đã chủ động rà soát, tổng hợp đầy đủ các nhóm nhiệm vụ được giao với 149 nhiệm vụ trong năm 2026. Trong đó gồm 36 nhiệm vụ theo Chương trình số 02-CTr/BCĐTW; 19 nhiệm vụ theo Thông báo số 17-TB/CCTTBCĐ; 16 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 11-NQ/CP; 17 nhiệm vụ theo Quyết định số 11/QĐ-BCĐCP; 42 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP và các thông báo, văn bản liên quan; 7 nhiệm vụ theo các Công văn số 939-CV/VPTW, 1734-CV/VPTW; cùng 12 nhiệm vụ theo Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành và tổ chức triển khai 4 văn bản trọng tâm gồm: Quyết định số 318/QĐ-BCT ngày 13/2/2026; Quyết định số 596/QĐ-BCT ngày 31/3/2026; Công văn số 2918/BCT-ĐCK ngày 24/4/2026 và Quyết định số 536/QĐ-BCT ngày 25/3/2026. Các văn bản đã tạo khuôn khổ điều hành thống nhất, phân công rõ đầu mối, tiến độ và trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ Nghị quyết 57 trong toàn ngành Công Thương.
Theo kết quả tổng hợp trên hệ thống theo dõi, giám sát Theodoinq.dcs.vn, tính đến ngày 14/5/2026, Bộ Công Thương không có nhiệm vụ quá hạn. Tổng số nhiệm vụ giao trong năm 2025 và 2026 là 274 nhiệm vụ, trong đó có 94 nhiệm vụ thường xuyên. Đến nay, Bộ đã hoàn thành 151 nhiệm vụ và đang triển khai 26 nhiệm vụ.
Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Bộ Công Thương xác định việc triển khai Nghị quyết 57 không chỉ dừng ở việc hoàn thành các nhiệm vụ theo kế hoạch, mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến thực chất về tư duy quản trị, phương thức điều hành và năng lực đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Công Thương. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để ngành Công Thương thích ứng với xu thế phát triển mới, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính
Trong công tác chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và tích hợp giấy tờ, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước cũng như cung cấp dịch vụ công trên môi trường số.
Nhiều cơ sở dữ liệu trọng điểm của ngành đang từng bước được hoàn thiện, tích hợp và đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Trong đó, cơ sở dữ liệu hàng hóa (hóa chất, tiền chất) đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu, đang đối soát với cơ sở dữ liệu dân cư để làm sạch dữ liệu và đã được C12 đánh giá phù hợp để tích hợp nhóm dữ liệu về hóa chất, giấy phép hóa chất, sẵn sàng đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại cũng đã hoàn thành tích hợp, sẵn sàng đồng bộ; hiện đang đồng bộ các chỉ tiêu thương mại xuất nhập khẩu, cán cân thương mại hàng hóa theo thị trường, FTA, mặt hàng, lượng, giá, trị giá, tỷ trọng và tăng trưởng.
Đối với việc tích hợp giấy tờ lên VNeID, Bộ Công Thương đã rà soát 41 loại giấy tờ theo Chỉ thị số 24/CT-TTg, trong đó có 1 giấy tờ gắn với cá nhân và 40 giấy tờ gắn với tổ chức. Các giấy tờ đã được ký số khi cấp phép, sẵn sàng khai thác. Bộ dự kiến tích hợp trong quý II và quý III/2026, đồng thời đề nghị C06 hướng dẫn phương thức tích hợp.
Về thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, Bộ đã hoàn thành tái cấu trúc 162 thủ tục hành chính, gồm 5 thủ tục khai thác cơ sở dữ liệu dân cư, 152 thủ tục khai thác cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp và 5 thủ tục khai thác cơ sở dữ liệu khác. Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ đã kết nối, sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cắt giảm thành phần hồ sơ.
Đặc biệt, Bộ Công Thương là một trong 9 bộ đã hoàn thành cấu hình mạng từ Agentnode đến điểm kết nối LGSP của Bộ và hoàn thành kiểm thử luồng nghiệp vụ trên môi trường chính thức. Bộ đã cung cấp đầy đủ API để kết nối Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ với Cổng dịch vụ công quốc gia thông qua nền tảng NDOP; hệ thống đã kết nối, vận hành chính thức từ ngày 1/1/2026.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã tiếp nhận 42.410 hồ sơ, trong đó có 42.012 hồ sơ trực tuyến, chiếm khoảng 99,1%; 398 hồ sơ trực tiếp; đã xử lý 22.227 hồ sơ.
Hiện Bộ Công Thương đang công khai 511 thủ tục hành chính trên Cổng dịch vụ công quốc gia, gồm 197 thủ tục hành chính cấp Bộ, 37 thủ tục hành chính cấp Bộ và cấp tỉnh, 261 thủ tục hành chính cấp tỉnh và 16 thủ tục hành chính cấp xã; đồng thời đã tích hợp 265 dịch vụ công trực tuyến.
Năm 2025, Bộ Công Thương thuộc nhóm 3 bộ, ngành dẫn đầu về chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công.
Về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan hoạt động sản xuất, kinh doanh, Bộ đã trình và được phê duyệt phương án cắt giảm 55,34% thủ tục hành chính (233/421 thủ tục), 30,71% chi phí tuân thủ, 33,18% tổng thời gian giải quyết và 30,4% điều kiện đầu tư kinh doanh (200/658 điều kiện). Đến nay, Bộ đã hoàn thành cắt giảm, đơn giản hóa 88 thủ tục hành chính theo Quyết định số 1643/QĐ-TTg và Quyết định số 2671/QĐ-TTg.
Về phân cấp, phân quyền, Bộ đã hoàn thành phân cấp 43/45 thủ tục hành chính theo Quyết định số 1015/QĐ-TTg, đạt 95,5%; phân quyền, phân cấp cho địa phương đối với 208/401 nhiệm vụ, chiếm 52%, và 150/486 thủ tục hành chính, đạt 30,8%.
Theo đề xuất tại Tờ trình số 2826/TTr-BCT ngày 27/4/2026, số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp Bộ sau phân cấp còn 148 thủ tục, chiếm 28,8%; dự kiến cắt giảm 50,38% chi phí tuân thủ, có thể đạt 65% nếu bãi bỏ thêm các thủ tục hành chính gắn với 6 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; đồng thời cắt giảm 80,47% thời gian giải quyết so với năm 2024.
Bộ cũng đã hoàn thành phương án đơn giản hóa giấy tờ công dân đối với 64/67 thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 100/NQ-CP, đạt 95%; hoàn thành thực thi phương án cắt giảm 17/162 thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP; xây dựng phương án đối với 94/264 thủ tục hành chính nội bộ, đạt 35,6%, trong đó đã thực thi cắt giảm, đơn giản hóa 22 thủ tục hành chính nội bộ thuộc lĩnh vực dầu khí.
Tập trung phát triển công nghệ chiến lược trong các lĩnh vực trụ cột
Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định rõ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ban hành chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược; đồng thời có cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ chiến lược.
Thực hiện Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026, Bộ Công Thương đã làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ; các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp trong ngành Công Thương; các viện, trường trong và ngoài Bộ; các hiệp hội công nghiệp và doanh nghiệp để rà soát, đề xuất bài toán lớn, công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với từng ngành, lĩnh vực.
Đồng thời, Bộ đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược; Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 về giao nhiệm vụ phát triển công nghiệp chiến lược.
Theo đó, Bộ Công Thương đã đề xuất 3 bài toán lớn gắn với mục tiêu phát triển của 3 lĩnh vực trụ cột gồm: bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao, hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao; hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.
Bộ cũng đã cụ thể hóa các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với từng bài toán lớn để chuyển Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Để triển khai ngay trong năm 2026, Bộ Công Thương đã đề xuất 3 nhiệm vụ triển khai công nghệ chiến lược gồm: bản sao số (Digital Twin) cho hệ thống điều hành lưới điện quốc gia; sản phẩm thiết bị đóng cắt điện áp 22kV-500kV gồm dao cách ly, Recloser, LBS, tủ hợp bộ Eco-GIS/GIS; robot công nghiệp hai tay cùng chương trình điều khiển nội địa.
Bên cạnh đó, Bộ đang chuyển hướng hỗ trợ đổi mới sáng tạo theo chuỗi cung ứng, ngành trọng điểm và bài toán lớn của doanh nghiệp. Ba trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp cấp vùng đang được triển khai. Trong đó, Trung tâm phía Bắc dự kiến vận hành trong quý II/2026; Trung tâm phía Nam đang thực hiện chuyển giao về Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành chậm nhất ngày 1/7/2026; Trung tâm miền Trung đang nghiên cứu phương án thành lập gắn với cơ sở đào tạo kỹ thuật của Bộ.
Theo Công văn số 719/BCT-ĐCK ngày 2/2/2026, Bộ cũng đã tiếp nhận 26 đề xuất nhiệm vụ từ 17 đơn vị, ưu tiên mô hình hợp tác “3 nhà”.
Đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy triển khai hiệu quả Nghị quyết 57
Theo cơ quan thường trực, thực tiễn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW cho thấy khối lượng nhiệm vụ lớn, đa ngành, yêu cầu cao và thời hạn gấp, trong khi nhân lực đầu mối về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cán bộ chuyên môn chưa được bổ sung kịp thời; công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng còn hạn chế.
Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính bố trí cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn hạn chế; cơ chế phân bổ, điều hành kinh phí thiếu linh hoạt, ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược, liên ngành và mô hình thí điểm.
Cơ chế Quỹ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn vướng mắc trong thực thi, cần tiếp tục rà soát để bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả. Việc triển khai công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược còn thiếu phân công đầu mối rõ ràng, tiêu chí xác định nhiệm vụ, quy trình và thẩm quyền cụ thể; các bộ, ngành còn hạn chế tính chủ động trong đặt hàng và tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật, năng lực nghiên cứu, tư vấn, chuyển giao công nghệ của các viện nghiên cứu và trường đại học thuộc Bộ chưa được đầu tư tương xứng. Hạ tầng số và dữ liệu vẫn còn những điểm nghẽn như thiếu hướng dẫn tích hợp giấy tờ vào VNeID, chưa rõ lộ trình sử dụng Trung tâm dữ liệu quốc gia; các cơ sở dữ liệu của Bộ đã sẵn sàng về kỹ thuật nhưng cần Bộ Công an hỗ trợ làm sạch, đối soát trước khi đồng bộ.
Để triển khai hiệu quả hơn Nghị quyết 57 trong thời gian tới, cơ quan thường trực đề xuất một số giải pháp trọng tâm như sớm có cơ chế bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức; có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài; tổ chức đào tạo, đào tạo lại cho đội ngũ làm công tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại các bộ, ngành, địa phương.
Cùng với đó là ưu tiên bổ sung, tăng tỷ trọng ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Bộ Công Thương trong năm 2026; rà soát các quy định về Quỹ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Luật số 93/2025/QH15, Nghị định số 265/2025/NĐ-CP và Thông tư số 17/2026/TT-BKHCN để bảo đảm đồng bộ, khả thi hơn.
Bộ cũng kiến nghị phân công rõ trách nhiệm chủ trì triển khai các sản phẩm công nghệ chiến lược theo phạm vi quản lý ngành; bổ sung quy định về nội dung nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành; nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 267/2025/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn nhằm tăng tính chủ động, đồng thời cụ thể hóa tiêu chí, phương thức và thẩm quyền xác định công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Bà Nguyễn Thị Lâm Giang nhấn mạnh, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã được Bộ Công Thương triển khai khẩn trương, quyết liệt trong thời gian qua. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết được triển khai đồng bộ trong toàn ngành, bước đầu tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động.
Bộ cẩm nang công nghệ ngành điện Việt Nam 2026 được xây dựng bởi Bộ Công Thương Việt Nam, Cục Năng lượng Đan Mạch và Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội, trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Đối tác Năng lượng Việt Nam - Đan Mạch.
18/05/2026